Hồi Xuân ĐườngTINH HOA ĐÔNG Y Đặt lịch tư vấn

Hàn khí & khí huyết

Phụ nữ lạnh buốt tay chân quanh năm: biện chứng theo Đông y

Bệnh danh Đông y Tứ chi quyết lãnh, tứ nghịch, hàn quyết. Y học hiện đại thường gặp trong thiếu máu, giảm chức năng tuyến giáp, huyết áp thấp, rối loạn vận mạch (hiện tượng Raynaud).

Cố vấn chuyên môn: BS. Phạm Văn Hùng — Bác sĩ Đông y, nhà sáng lập Hồi Xuân Đường
Cập nhật 06/10/2026 · 4 phút đọc

Nội dung bài viết
  1. Mở đầu lâm sàng
  2. Bệnh nguyên – Bệnh cơ
  3. Biện chứng phân thể
  4. Cổ phương tham khảo
  5. Chẩn trị tại Hồi Xuân Đường
  6. Dưỡng sinh tại nhà
  7. Lưu ý lâm sàng

Mở đầu lâm sàng

Giữa trưa tháng Bảy, người đối diện nóng đến nỗi phải bật quạt, còn bạn thì lòng bàn tay lạnh như vừa cầm ly đá. Phụ nữ tuổi 25–45 đến khám vì chứng này rất thường gặp, nhiều người đã quen sống với nó nhiều năm.

Bệnh nguyên – Bệnh cơ

Tố Vấn viết “tứ chi giả, chư dương chi bản dã” (tứ chi là gốc của các kinh dương), nên tay chân ấm hay lạnh là phép thử dương khí có đạt tới ngọn hay không. Dương khí không đạt tứ mạt có ba cơ chế chính:

  1. Dương uất: Can khí uất kết, khí cơ không thông nên dương khí bị giữ lại ở trong, không ra được ngoài. Tay chân lạnh nhưng ngực bụng không lạnh, thường kèm bực bội, ngực sườn đầy tức.
  2. Huyết hư hàn ngưng: huyết không đủ nuôi mạch lạc, hàn ngưng ở huyết mạch. Hay gặp ở phụ nữ mất máu, kinh nhiều, sau sinh, ăn uống thiếu chất.
  3. Dương hư: Tỳ Thận dương suy, không đủ hỏa để ôn ấm tứ chi. Lạnh cả người, lạnh từ gối xuống, kèm tiêu chảy sáng sớm hoặc tiểu đêm.

Biện chứng phân thể

Chứng Triệu chứng chủ yếu Lưỡi – Mạch Pháp trị Huyệt, thủ pháp
Can khí uất (dương uất) Tay chân lạnh khi căng thẳng, bực bội, ngực sườn đầy, kinh nguyệt không đều Lưỡi hồng nhạt, rêu mỏng; mạch huyền Sơ Can giải uất, thấu đạt dương khí Hợp Cốc + Thái Xung (“tứ quan”), Kỳ Môn, Chương Môn
Huyết hư hàn ngưng Tay chân lạnh, sắc mặt nhợt, hoa mắt, kinh ít, đau bụng kinh lạnh Lưỡi nhợt, rêu trắng; mạch tế (có khi tế muốn tuyệt) Ôn kinh, dưỡng huyết, thông mạch Cách Du, Can Du, Huyết Hải, Tam Âm Giao; ôn ấm bụng dưới
Tỳ Thận dương hư Lạnh toàn thân, đại tiện lỏng, tiểu đêm, mỏi lưng gối Lưỡi bệu nhợt, rêu trắng trơn; mạch trầm trì vô lực Ôn bổ Tỳ Thận, trợ dương Thận Du, Mệnh Môn, Quan Nguyên, Khí Hải, Túc Tam Lý

Cổ phương tham khảo

  • Tứ Nghịch Tán (Thương Hàn Luận): Sài hồ, Thược dược, Chỉ thực, Chích thảo, cho dương uất.
  • Đương Quy Tứ Nghịch Thang (Thương Hàn Luận): cho huyết hư hàn ngưng.
  • Lý Trung Hoàn / Hữu Quy Hoàn: cho Tỳ dương hư, Thận dương hư.

Chẩn trị tại Hồi Xuân Đường

Sau Tứ chẩn, tại Hồi Xuân Đường pháp trị được chọn theo thể: thể dương uất ưu tiên sơ Can lý khí (Dưỡng can – thanh lọc cơ thể), thể hư hàn ưu tiên ôn kinh tán hàn (Truy phong tán hàn chuyên sâu), thể dương hư phối ôn bổ Thận (Dưỡng thận hồi xuân). Bấm huyệt phối hợp ôn ấm vùng bụng dưới và thắt lưng.

Dưỡng sinh tại nhà

  • Giữ ấm bụng, thắt lưng, bàn chân; tránh đồ lạnh, đá.
  • Thể huyết hư: ăn thịt đỏ nạc, gan, đậu đỏ, táo đỏ; thể dương hư: món ấm như canh gừng, thịt dê hầm mùa lạnh.
  • Thể dương uất: tập thở, vận động ngoài trời, điều hòa tình chí.
  • Ngâm chân nước ấm 15 phút buổi tối.

Lưu ý lâm sàng

Đầu ngón tay đổi màu trắng – tím – đỏ khi gặp lạnh, tê đau, loét đầu ngón (nghi Raynaud thứ phát), da khô, tăng cân, mệt nhiều (nghi giáp), da xanh xao, kinh nhiều kéo dài (nghi thiếu máu) cần được làm xét nghiệm. Ngón tay lạnh kèm đau ngực, khó thở: cấp cứu.

Bạn muốn được thăm khám thể trạng trực tiếp?

Mỗi người một thể chất, một chứng khác nhau. Buổi đánh giá thể trạng giúp xác định đúng hướng chăm sóc trước khi chọn liệu trình.